Welcome to TD05

Chém gió nào các bạn :))
IndexCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Đăng Nhập
Tên truy cập:
Mật khẩu:
Đăng nhập tự động mỗi khi truy cập: 
:: Quên mật khẩu
Top posters
Admin (149)
 
david-.dang.- (12)
 
col_el (3)
 
death9368 (3)
 
nidforever (2)
 
diego_teo (2)
 
kka (2)
 
huan_nguyen (1)
 
Latest topics
» Bóng đá lớp CĐTĐ_05
Mon Feb 06, 2012 9:33 pm by

» chán cái 4gum wá đêêêêêêêê.....!
Fri Jan 06, 2012 12:40 pm by

» cách trinh phục hoàn tòan con gái..ai chưa có bồ vô đọc nhé.
Fri Dec 16, 2011 2:06 pm by

» Bài Báo Khiến 1 tỷ người rơi lệ - cái này chỉ la 1 chuyện buồn nhưng đầy tình người
Mon Dec 12, 2011 9:51 pm by

» Xôn xao câu chuyện bi thảm về người nữ tài xế xe bus
Thu Nov 24, 2011 6:13 pm by

» (18+)........ khi trẻ con thuật chuyện người lớn.....
Fri Nov 11, 2011 1:05 am by

» File LIFELINES ELMENT của thầy Quân nè
Fri Nov 04, 2011 10:56 pm by

» Luật Lao Động nhóm 07
Thu Nov 03, 2011 1:33 pm by

» Thư gửi con
Thu Oct 13, 2011 1:20 am by


Share  | 
 

 Luật Lao Động nhóm 07

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giả Thông điệp
david-.dang.-



Tổng số bài gửi: 12
Join date: 03/11/2011
Age: 18
Đến từ: Long An City

Bài gửiTiêu đề: Luật Lao Động nhóm 07   Thu Nov 03, 2011 1:33 pm


LUẬT LAO ĐỘNG
I. Giới thiệu:
Pháp luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và của
người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và
quản lý lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất, vì vậy có vị trí quan trọng trong
đời sống xã hội và trong hệ thống pháp luật của quốc gia cũng như quốc tế.
Pháp luật lao động bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và ổn định, góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động trí óc và lao động chân tay và của người quản lý lao động, nhằm đạt năng suất, chất lượng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ, hiệu quả trong sử dụng và quản lý lao động, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Do vị trí đặc biệt quan trọng như thế của pháp luật lao động nên ngành Luật lao động được đặc biệt chú trọng ở hầu hết các nước trên thế giới. Trong chương trình đào tạo Cử nhân Luật học ở tất cả các trường đại học đều có môn học Luật Lao động.
Tác giả
Thạc sĩ Diệp Thành Nguyên
II. Khái quát chung về luật lao động:
1. Khái niệm:
Luật lao động là tổng thể các quan hệ pháp luật do nhà nước ban hành, nhằm điều chỉnh quan hệ lao động, giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và quan hệ xã hội có liên quan trực tiếp đến người lao động.
2. Đối tượng điều chỉnh của luật lao động:
Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là những nhóm quan hệ xã hội cùng loại có cùng tính chất cơ bản giống nhau được các quy phạm của ngành luật ấy điều chỉnh.
Đối tượng điều chỉnh của Luật lao động là mối quan hệ xã hội phát sinh giữa một bên là người lao động làm công ăn lương với một bên là cá nhân hoặc tổ chức sử dụng, thuê mướn có trả công cho người lao động và các quan hệ khác có liên quan chặt chẽ hoặc phát sinh từ quan hệ lao động.
Như vậy, đối tượng điều chỉnh của Luật lao động bao gồm hai nhóm quan hệ xã hội:
- Quan hệ lao động;
- Các quan hệ liên quan đến quan hệ lao động (phát sinh trong quá trình sử
dụng lao động).
a - Quan hệ lao động
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất
và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu
quả cao là yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước. Lao động là hoạt động
có ý thức, có mục đích của con người nhằm tạo ra một giá trị sử dụng nhất
định. Nhờ có lao động mà con người tách mình ra khỏi thế giới động vật, đồng
thời biết vận dụng quy luật của thiên nhiên để chinh phục lại thiên nhiên.
Trong nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế đã
hình thành nhiều quan hệ lao động, các quan hệ lao động này ngày càng trở nên
đa dạng và phức tạp, đan xen lẫn nhau. Trong số các quan hệ lao động tồn tại
trong đời sống xã hội, Luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động giữa
người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động thuộc mọi thành
phần kinh tế, tức là Luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động được
xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động. Đối với quan hệ lao động hình thành trên
cơ sở hợp đồng lao động, pháp luật đặt ra các tiêu chuẩn, chuẩn mực hay khung
pháp lý, trong đó quyền lợi của các bên được ấn định ở mức tối thiểu và nghĩa
vụ ấn định ở mức tối đa. Các chủ thể khi tham gia quan hệ này hoàn toàn được
tự do, bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận các vấn đề liên quan đến quá trình lao
động phù hợp với pháp luật và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Chính vì thế, Điều 1 Bộ luật Lao động năm 1994 nước ta quy định : “Bộ luật lao động điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ lao động liên quan trực tiếp với quan hệ lao động”. Đây là loại quan hệ lao động tiêu biểu và cũng là hình thức sử dụng lao động chủ yếu, phổ biến trong nền kinh tế thị trường.
Như vậy, khác với quan hệ lao động làm công ăn lương do Luật lao động điều chỉnh, quan hệ lao động của cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy Nhà nước có những nét đặc trưng khác biệt, vì vậy quan hệ lao động này trước hết do Luật hành chính điều chỉnh. Tuy nhiên, dưới góc độ là một quan hệ sử dụng lao động, Luật lao động cũng điều chỉnh các quan hệ lao động của cán bộ, công chức trong phạm vi phù hợp. Điều 4 Bộ luật lao động quy định: “Chế độ lao động đối với công chức, viên chức Nhà nước, người giữ các chức vụ được bầu, cử hoặc bổ nhiệm, người thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân, người thuộc các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội khác và xã viên hợp tác xã do các văn bản pháp luật khác quy định nhưng tùy từng đối tượng mà được áp dụng một số uy định trong Bộ luật này”.
b - Các quan hệ liên quan đến quan hệ lao động
Ngoài quan hệ lao động làm công ăn lương là quan hệ chủ yếu, Luật lao động còn điều chỉnh một số quan hệ xã hội khác có liên quan chặt chẽ với quan hệ lao động. Những quan hệ đó bao gồm :

- Quan hệ về việc làm.
- Quan hệ học nghề.
- Quan hệ về bồi thường thiệt hại.
- Quan hệ về bảo hiểm xã hội.
- Quan hệ giữa người sử dụng lao động với tổ chức Công đoàn, đại diện
của tập thể người lao động.
- Quan hệ về giải quyết các tranh chấp lao động và các cuộc đình công.
- Quan hệ về quản lý lao động.
3. Phương pháp điều chỉnh của luật lao động:
Cùng với đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh là căn cứ để phân biệt các ngành luật, đồng thời để khẳng định tính độc lập của mỗi ngành luật. Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật là những cách thức, biện pháp mà Nhà nước thông qua pháp luật sử dụng chúng để điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội, sắp xếp các nhóm quan hệ xã hội theo những trật tự nhất định để chúng phát triển theo những hướng định trước. Phương pháp điều chỉnh của mỗi ngành luật được xác định trên cơ sở đặc điểm, tính chất của đối tượng điều chỉnh của ngành luật đó. Xuất phát từ tính chất của các quan hệ xã hội do Luật lao động điều chỉnh, Luật lao động sử dụng nhiều phương pháp tác động khác nhau tùy thuộc vào từng quan hệ lao động cụ thể.
Các phương pháp điều chỉnh của Luật lao động bao gồm:
- Phương pháp thỏa thuận
- Phương pháp mệnh lệnh
- Phương pháp thông qua các hoạt động Công đoàn tác động vào các

III. Nội dung của quan hệ pháp luật lao động:
1. Hợp đồng lao động:

Hợp đồng theo nghĩa chung nhất là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ cụ thể. Hiện nay pháp luật Việt Nam quy định ba loại hợp đồng cơ bản là hợp đồng dân sự, kinh tế và lao động.
2. Tiền lương:
a. Khái niệm:
Tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả
cho người lao động khi người lao động hoàn thành công việc theo chức năng,
nhiệm vụ do pháp luật quy định, hoặc do hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng
lao động.
Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Lương được trả bằng tiền mặt. Việc trả lương một phần bằng séc hoặc ngân phiếu do Nhà nước phát hành, do hai bên thoả thuận với điều kiện không gây thiệt hại, phiền hà cho người lao động.

b. Tiền lương tối thiểu:
Lương tối thiểu là mức lương trả công cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường.
Mức lương tối thiểu chung được điều chỉnh tuỳ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá sinh hoạt và cung cầu lao động theo từng thời kỳ.
Mức lương tối thiểu chung được dùng làm căn cứ tính các mức lương
trong hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụ cấp lương trong khu vực Nhà nước, tính các mức lương ghi trong hợp đồng lao động đối với các doanh nghiệp xây dựng thang lương, bảng lương theo quy định của pháp luật lao động và thực hiện một số chế độ khác cho người lao động theo quy định của pháp luật.
Mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với:
a) Cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang, tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội;
b) Công ty hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước gồm: công ty nhà
nước, công ty thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty do Nhà
nước quyết định đầu tư và thành lập;
c) Công ty, doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;
d) Các hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và tổ chức
khác có thuê mướn lao động.
c. Tiền lương cơ bản:
Tiền lương cơ bản, còn gọi là tiền lương chính hay tiền lương tiêu chuẩn, là tiền lương được xác định trên cơ sở tính đủ các nhu cầu cơ bản về sinh học, xã hội học, về độ phức tạp và mức độ tiêu hao lao động trong những điều kiện lao động trung bình của từng ngành nghề, công việc.
Khái niệm tiền lương cơ bản chỉ tồn tại trên thực tế khi ngoài tiền lương còn có các loại phụ cấp đi theo.

d. Trả lương khi làm thêm giờ:
Người lao động làm thêm giờ nói được trả lương làm thêm giờ theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả của công việc đang làm như sau:
a) Vào ngày thường, trả ít nhất bằng 150%.
b) Vào ngày nghỉ hàng tuần, trả ít nhất bằng 200%.
c) Vào ngày lễ, ngày nghỉ, trả ít nhất bằng 300%.
Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương của công việc đang làm vào ban ngày. Nếu làm thêm giờ vào ban đêm, thì người lao động còn được trả tiền lương làm thêm giờ.
3. Bảo hiểm xã hội:
a. Khái niệm:
Thuật ngữ “bảo hiểm xã hội” được hiểu không giống nhau giữa các nước
về mức độ phạm vi rộng hẹp của nó. Tuy nhiên, về cơ bản thì thuật ngữ này
được hiểu với nghĩa là sự bảo đảm an toàn của xã hội dành cho thành viên của
nó thông qua các quy trình của hệ thống công cộng, nhằm giải toả những lo âu
về kinh tế và xã hội cho thành viên. Nói cách khác, nó góp phần giúp các thành
viên trong xã hội và gia đình khắc phục sự suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập
thực tế do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hư
trí, và tử tuất; đồng thời cung cấp về dịch vụ y tế, trợ cấp gia đình có con nhỏ.
Dưới góc độ pháp lý, Bảo hiểm xã hội là một chế định bảo vệ người lao
động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao
động và được sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người
được bảo hiểm trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình quân do ốm
đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động hoặc khi
chết. .

b. Mục đích của Bảo hiểm xã hội:
Bảo hiểm xã hội có mục tiêu rộng hơn sự phòng ngừa hay trợ giúp vật chất trong những trường hợp cần thiết, mà nó còn là sự đáp ứng những nhu cầu, những mong ước của loài người muốn được bảo đảm an toàn trong cuộc sống theo nghĩa rộng nhất.
Mục đích chủ yếu của BHXH là tạo cho mọi cá nhân và gia đình họ một
niềm tin vững chức rằng mức sống và điều kiện sống của họ, trong một chừng
mực có thể, không bị suy giảm đáng kể bởi bất kỳ hậu quả kinh tế hay xã hội
nào.
BHXH không chỉ bao gồm việc đáp ứng những nhu cầu phát sinh khi lâm vào tình trạng khó khăn túng thiếu, mà trước hết nó nhằm phòng ngừa những rủi ro có thể xảy ra, đồng thời giúp đỡ cho cá nhân và gia đình có được sự tự điều chỉnh tốt nhất có thể được khi họ đối mặt với sự đau ốm, tàn tật và những hoàn cảnh khó khăn khác không thể ngăn ngừa được. Vì vậy, BHXH yêu cầu không chỉ tiền mặt, mà còn là những dịch vụ xã hội, dịch vụ y tế với một phạm vi rộng lớn.
BHXH hoạt động và phát triển bởi vì nó phản ánh được nhu cầu của toàn
thể nhân loại. Mọi ngưòi trong mọi thời đại lịch sử không ngoại trừ ai đều đối
mặt với những điều không may xảy đến trong cuộc sống như tình trạng thất
nghiệp, ốm đau, tai nạn lao động, sự tàn tật, cái chết và tuổi già. Bởi vậy,
BHXH là một chương trình bản mẫu thiết kế nhằm khắc phục và hạn chế những điều không may mắn đó.
Khoản 1 Điều 140 Bộ luật Lao động nước ta (đã được sửa đổi, bổ sung11) đã nêu rõ “Nhà nước quy định chính sách bảo hiểm xã hội nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, chăm sóc, phục hồi sức khoẻ, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình trong các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác”.
4. Tranh chấp lao động:
a. Khái niệm:
Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, quan hệ giữa người lao động với người sử dụng lao động không phải lúc nào cũng diễn biến một cách ổn định bình thường theo đúng những thỏa thuận. Giữa họ có thể sẽ xuất hiện những bất đồng về quyền và lợi ích trong lao động. Có những bất đồng được các bên thỏa thuận và giải quyết được song cũng có thể có những bất đồng mà sự thương lượng của hai bên không thể giải quyết được. Những bất đồng, xung đột nếu được giải quyết tốt thì sẽ không trở thành mâu thuẫn, ngược lại, nếu không được giải quyết thì dễ trở thành những mâu thuẫn gay gắt. Lúc này, họ phải cần đến một trung gian (người thứ thứ ba hoặc một cơ quan có thẩm quyền được pháp luật quy định) để giải quyết.
Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều định ra một cơ chế giải quyết những bất đồng, xung đột của hai bên chủ thể trong mối quan hệ lao động. Do điều kiện cụ thể của mỗi nước mà quan niệm về tranh chấp lao động ở các nước có sự khác biệt. Từ đó, mỗi nước định ra cơ chế giải quyết tranh chấp lao động khác nhau.
Ở nước ta, vấn đề tranh chấp lao động đã được pháp luật lao động đề cập
đến từ những văn bản đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa bằng
các thuật ngữ như “việc kiện tụng”, “việc xích mích” (Sắc lệnh số 29/SL ngày
12-03-1947). Một thời gian dài sau đó, do quan niệm về bản chất quan hệ lao
động trong chủ nghĩa xã hội và chủ trương xây dựng nền kinh tế tập trung bao
cấp nên phần lớn các tranh chấp lao động chỉ được xem như những bất đồng có
tính chất khiếu nại hành chính của công nhân viên chức với cơ quan, xí nghiệp
Nhà nước.
Từ năm 1986, cùng với quá trình đổi mới và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, nhận thức về quan hệ lao động và tranh chấp lao động cũng thay đổi : Pháp lệnh Hợp đồng lao động (ngày 30-08-199) đánh dấu sự thừa nhận tranh chấp lao động cá nhân và Nghị định 18/CP ngày 23-06-1992 của Chính phủ là văn bản đầu tiên ghi nhận có tranh chấp lao động tập thể. Tuy nhiên, chỉ đến khi Bộ luật lao động 1994 được ban hành thì định nghĩa chính thức về tranh chấp lao động mới được quy định như sau :
Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng, thỏa ước lao động tập thể và trong quá trình học nghề
Đây là một định nghĩa hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay trong pháp luật lao động Việt Nam vì nó không những chỉ ra được nội dung tranh chấp mà còn phân biệt được đối tượng tranh chấp.
Như vậy, ta chỉ coi những tranh chấp có nguồn gốc phát sinh từ những mâu thuẫn phải giải quyết trong phạm vi quan hệ lao động là tranh chấp lao động. Nếu những bất đồng của hai bên không xuất phát từ quá trình sử dụng thuê mướn lao động thì không gọi là tranh chấp lao động.
Nhưng không phải mọi bất đồng giữa các bên chủ thể quan hệ lao động đều coi là tranh chấp lao động. Mà chỉ có những bất đồng chưa được giải quyết mới phát sinh tranh chấp

b. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động:
Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân gồm:
1- Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động của cơ
quan lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi
chung là cấp huyện) đối với những nơi không có Hội đồng hoà giải lao
động cơ sở;
2- Toà án nhân dân.

Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể gồm:
1- Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động của cơ
quan lao động cấp huyện nơi không có Hội đồng hoà giải lao động cơ
sở;
2- Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh;
3- Toà án nhân dân.

5. Công đoàn:
Khái niệm:
Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người
lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và
bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động
khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt
động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên
chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động Việt Nam (gọi chung là người lao động) tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam; là trường học chủ nghĩa xã hội của người lao động.
Nghiệp đoàn là tổ chức cơ sở của Công đoàn tập hợp những người lao động tự do hợp pháp cùng ngành nghề. Nghiệp đoàn do các công đoàn cấp trên là Liên đoàn lao động cấp huyện hoặc công đoàn ngành địa phương trực tiếp quyết định thành lập, giải thể và chỉ đạo hoạt động.
Nghiệp đoàn tập hợp những người lao động tự do hợp pháp cùng ngành, nghề, được thành lập theo địa bàn hoặc theo đơn vị lao động có 10 đoàn viên trở lên và được công đoàn cấp trên quyết định công nhận.

Như vậy, công đoàn (hay nghiệp đoàn) là tổ chức chính trị xã hội nghề
nghiệp, là một tổ chức quần chúng rộng lớn nhất của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động. Công đoàn xuất hiện khi giới công nhân biết ý thức về sức mạnh
tập thể và biết chăm lo bảo vệ quyền lợi cho chính mình. Tổ chức công đoàn
ban đầu chỉ là một tổ chức được lập ra nhằm đấu tranh và hạn chế sự bóc lột của
giới chủ chứ chưa phải là một tổ chức có nhiều quyền năng như ngày nay. Sự
phát triển của công đoàn gắn liền với sự lớn mạnh của giai cấp công nhân, với sự phát triển của công nghiệp, kỹ nghệ và sự liên kết của giới những người chủ. Chính trong sự phát triển đó, sinh hoạt công đoàn cũng được thúc đẩy và dần chiếm được vị trí quan trọng trong hệ thống các tổ chức xã hội, cũng như trong đời sống của người lao động. Từ chỗ chỉ được thừa nhận trong phạm vi hẹp, ngày nay công đoàn đã được thừa nhận trong phạm vi toàn xã hội.
6. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của người lao động:
a. Quyền của người lao động:
Trong quan hệ pháp luật lao động, người lao động có các quyền cơ bản sau
đây:
- Được trả lương theo số lượng và chất lượng lao động;
- Được đảm bảo an toàn trong quá trình lao động;
- Được bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật;
- Được nghỉ ngơi theo quy định của pháp luật và theo thỏa thuận giữa các
bên;
- Được thành lập hoặc gia nhập tổ chức Công đoàn;
- Được hưởng phúc lợi tập thể, tham gia quản lý doanh nghiệp theo quy
định của pháp luật, và theo nội quy lao động của đơn vị;
- Được đình công theo quy định của pháp luật.
b. Nghĩa vụ của người lao động:
Trong quan hệ pháp luật lao động, người lao động phải thực hiện các nghĩa
vụ cơ bản sau đây:
- Thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và chấp hành
nội quy của đơn vị;
- Thực hiện các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và chấp
hành kỷ luật lao động;
- Tuân thủ sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động.
7. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động:
a. Quyền của người sử dụng lao động:
Trong quan hệ pháp luật lao động, người sử dụng lao động có các quyền cơ bản sau đây:
- Quyền tuyển chọn, bố trí và điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất,
công tác;
- Quyền được cử đại diện để thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập
thể;
- Quyền khen thưởng và xử lý vi phạm kỷ luật lao động theo quy định của
pháp luật;
- Quyền chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp luật định.
b. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động:
Trong quan hệ pháp luật lao động, người sử dụng lao động phải thực hiện các nghĩa vụ cơ bản sau đây :
- Thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và các thỏa
thuận khác với người lao động.
- Đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động và các điều kiện lao động
khác.
- Đảm bảo kỷ luật lao động.
- Tôn trọng nhân phẩm và đối xử đúng đắn với người lao động. Đồng thời phải quan tâm đến đời sống họ và gia đình của họ.

III. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT LAO ĐỘNG:
Nguyên tắc cơ bản của Luật lao động là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo quán triệt và xuyên suốt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật lao động trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về sử dụng lao động. Nội dung các nguyên tắc cơ bản của Luật lao động thể hiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về lĩnh vực lao động. Dưới đây ta sẽ lần lược nghiên cứu các nguyên tắc này.

1 - Nguyên tắc bảo vệ người lao động
Tư tưởng bảo vệ người lao động xuất phát từ quan điểm coi mục tiêu và
động lực chính của sự phát triển là “vì con người, phát huy nhân tố con người,
trước hết là người lao động” được đề ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII.
Nội dung của nguyên tắc bảo vệ người lao động rất rộng, đòi hỏi pháp luật
phải thể hiện quan điểm bảo vệ họ với tư cách bảo vệ con người, chủ thể của
quan hệ lao động. Vì vậy, nó không chỉ bao hàm mục đích bảo vệ sức lao động,
bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động, mà phải bảo vệ họ trên
mọi phương diện như: việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, tính mạng, sức khỏe,
nhân phẩm, danh dự, cuộc sống của bản thân và gia đình họ, thời giờ nghỉ ngơi,
nhu cầu nâng cao trình độ, liên kết và phát triển trong môi trường lao động và
xã hội lành mạnh. Vì thế, nguyên tắc bảo vệ người lao động bao gồm các nội
dung sau đây:
a. Đảm bảo quyền tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử của người lao động:
Hiến pháp nước ta quy định lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân.
Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao
động. Bộ luật lao động cũng quy định: “Mọi người đều có quyền làm việc, tự do
lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân
tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo”. Nội dung của các quy định này là
sự đảm bảo về mặt pháp lý cho người lao động trong phạm vi khả năng, nguyện
vọng của mình có được cơ hội tìm kiếm việc làm và có quyền làm việc.
Để người lao động được hưởng và thực hiện được các quyền nói trên của mình, pháp luật lao động ghi nhận quyền có việc làm và tự do lựa chọn nơi làm việc của người lao động; đồng thời cũng quy định trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội trong việc tạo điều kiện để người lao động có việc làm và được làm việc.

b. Trả lương (tiền công) theo thỏa thuận:
Xuất phát từ quan điểm cho rằng sức lao động là hàng hóa, tiền lương là giá cả sức lao động, các quy định về tiền lương do Nhà nước ban hành phải phản ánh đúng giá trị sức lao động.
Tùy từng tính chất, đặc điểm khác nhau của từng loại lao động mà Nhà nước
quy định chế độ tiền lương hợp lý, và phải quán triệt các nguyên tắc sau đây:
- Lao động có trình độ chuyên môn cao, thành tạo, chất lượng cao, làm
việc nhiều thì được trả công cao và ngược lại.
- Những lao động ngang nhau phải được trả công ngang nhau.
Bộ luật lao động quy định tiền lương của người lao động do hai bên thỏa
thuận, nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Đồng thời để đảm bảo quyền lợi của người lao động trong việc được trả lương
và hưởng lương trên cơ sở thỏa thuận, pháp luật lao động cũng quy định những
biện pháp bảo vệ người lao động và bảo hộ tiền lương của người lao động.
c. Thực hiện bảo hộ lao động đối với người lao động:
Hiến pháp nước ta quy định: “Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ
lao động”; đồng thời pháp luật lao động cũng quy định: “Chính phủ lập chương
trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, đưa vào
kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và ngân sách của Nhà nước; đầu tư nghiên
cứu khoa học, hỗ trợ phát triển các cơ sở sản xuất dụng cụ, thiết bị an toàn lao
động, vệ sinh lao động, phương tiện bảo vệ cá nhân; ban hành hệ thống tiêu
biểu, quy trình, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động”. Các quy định
này xuất phát từ quan điểm và nhận thức: con người là vốn quý, là lực lượng lao
động chủ yếu của xã hội. Do vậy, việc bảo vệ sức khỏe chung và bảo vệ an toàn,
vệ sinh lao động cho người lao động nói riêng là nhiệm vụ và trách nhiệm
không thể thiếu được của Nhà nước và các doanh nghiệp.
Những đảm bảo về mặt pháp lý để người lao động thực sự được hưởng quyền bảo hộ lao động thể hiện ở các điểm sau:
- Được đảm bảo làm việc trong điều kiện an toàn và vệ sinh lao động;
- Được hưởng chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân;
- Được hưởng các chế độ bồi dưỡng sức khỏe khi làm những công việc
nặng nhọc, có yếu tố độc hại, nguy hiểm;
- Được sắp xếp việc làm phù hợp với sức khỏe, được áp dụng thời gian
làm việc rút ngắn đối với công việc độc hại, nặng nhọc;

- Được đảm bảo các điều kiện về vật chất khi khám và điều trị tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp.
d. Đảm bảo quyền được nghỉ ngơi của người lao động:
Nghỉ ngơi là nhu cầu không thể thiếu được của cuộc sống. Quyền được nghỉ ngơi là một quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật lao động.
Căn cứ vào tính chất của mỗi ngành, nghề, đặc điểm lao động trong từng khu
vực khác nhau, Nhà nước ngoài việc quy định thời gian làm việc hợp lý, còn
quy định thời gian nghỉ ngơi đối với người lao động nhằm tạo điều kiện cho họ
khả năng phục hồi sức khỏe, tái sản xuất sức lao động và tăng năng suất lao
động.
e. Tôn trọng quyền đại diện của tập thể lao động:
Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp tư nhân cũng như doanh nghiệp Nhà nước, đều có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp theo nội quy, điều lệ của doanh nghiệp và quy định của pháp luật; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về sử dụng lao động. Người lao động thực hiện các quyền này của mình thông qua đại diện của họ -
đó là tổ chức Công đoàn.
Nội dung của nguyên tắc này được quy định trong Hiến pháp, Bộ luật lao động, và Luật Công đoàn.
Quyền được thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình là một trong các quyền quan trọng của người lao động được pháp luật lao động ghi nhận và đảm bảo thực hiện. Các quyền này được quy định cụ thể trong Luật công đoàn.
f. Thực hiện bảo hiểm xã hội đối với người lao động:
Bảo hiểm xã hội là một hoạt động không thể thiếu được trong đời sống xã hội, và càng không thể thiếu đối với người lao động, đó là một đảm bảo rất quan trọng và có ý nghĩa thiết thực, góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động trong những trường hợp rủi ro.
Quyền được bảo hiểm xã hội là một trong các quyền cơ bản của người lao
động được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Nhà nước và các đơn vị sử dụng lao
động có trách nhiệm thực hiện các chế độ bảo hiểm đối với người lao động.
Nội dung của nguyên tắc này là người lao động trong mọi thành phần kinh
tế, không phân biệt nghề nghiệp, thành phần xã hội, tôn giáo, giới tính, nếu có
tham gia vào quan hệ lao động, có đóng góp bảo hiểm xã hội theo quy định của
pháp luật lao động thì đều được đảm bảo các điều kiện về vật chất trong trường
hợp tạm thời hoặc vĩnh viễn mất sức lao động, mất việc làm nhằm giúp họ khắc phục khó khăn, ổn định đời sống, tạo điều kiện để người lao động an tâm lao động, thúc đẩy sản xuất phát triển.

2. Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động:
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật lao động. Bởi lẽ, người sử dụng lao động là một bên của quan hệ lao động, cùng với việc bảo vệ người lao động, không thể không tính đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động. Điều 57 Hiến pháp 1992 quy định: “ công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”, và Điều 58 Hiến pháp cũng quy định là công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế khác.
Nếu như người lao động có quyền tự do lựa chọn việc làm, được hưởng các
quyền lợi trong lao động, thì người sử dụng lao động trong bất kỳ thành phần
kinh tế nào cũng có quyền tuyển chọn lao động, quyền tăng hoặc giảm lao động
phù hợp nhu cầu sản xuất, kinh doanh, quyền ban hành nội quy và các quy chế
lao động, có quyền khen thưởng, kỷ luật, chấm dứt hợp đồng lao động v.v...
theo quy định của pháp luật. Nếu tài sản của người sử dụng lao động bị người
lao động làm thiệt hại thì họ có quyền yêu cầu được bồi thường. Người sử dụng
lao động cũng có quyền phối hợp với tổ chức Công đoàn trong quá trình sử
dụng lao động để quản lý lao động dân chủ và hiệu quả; có quyền thương lượng
và ký kết thỏa ước lao động tập thể trong đơn vị cho phù hợp với tình hình sản
xuất, kinh doanh và khả năng kinh tế, tài chính của đơn vị mình.
Trong quá trình hoạt động, người sử dụng lao động có quyền tham gia các
tổ chức của người sử dụng lao động. Nếu các quyền, lợi ích hợp pháp của họ bị
xâm phạm thì họ có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ cho mình.

3. Nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội:
Người lao động là thành viên trong xã hội, tham gia quan hệ lao động để đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình mình, nên các chế độ lao động không chỉ liên quan đến người lao động mà còn liên quan đến toàn bộ đời sống xã hội, do đó trong quá trình điều chỉnh các quan hệ lao động, Luật lao động phải kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội.

Quan hệ lao động vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội. Khi điều tiết quan
hệ lao động, Nhà nước phải chú ý đến các bên trong quan hệ này, nhất là người lao động, về tất cả các phương diện như : lợi ích vật chất, tinh thần, nhu cầu xã hội v. v... và đặt những vấn đề đó trong mối tương quan phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã khẳng định: “ phải có chính sách xã hội là động lực để phát triển kinh tế, nhưng đồng thời phải có chính sách kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện chính sách xã hội”.
Như vậy, bên cạnh mục tiêu kinh tế như lợi nhuận, tiền lương, sự tăng trưởng trong sản xuất, kinh doanh, Luật lao động phải giải quyết các vấn đề xã hội như: việc làm, công bằng, dân chủ, tương trợ cộng đồng ngay trong quá trình lao động, ngay tại các doanh nghiệp. Nếu pháp luật lao động tách rời hoặc coi nhẹ chính sách xã hội thì sẽ không hạn chế được những tiêu cực của cơ chế thị trường; ngược lại, nếu coi trọng các vấn đề xã hội quá mức so với điều kiện kinh tế thì sẽ không có tính khả thi.
Ở tầm vĩ mô, Chính phủ có sự hỗ trợ về tài chính cho những địa phương, ngành có nhiều người thiếu việc làm, hoặc mất việc làm do thay đổi cơ cấu công nghệ. Pháp luật lao động cũng có những ưu tiên về vay vốn, giảm thuế cho những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động tàn tật, lao động nữ để giải quyết các vấn đề xã hội và đảm bảo mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp.
Quán triệt nguyên tắc này, pháp luật lao động đã góp phần quan trọng bảo vệ
người lao động, khuyến khích đầu tư, tạo điều kiện phát triển các doanh nghiệp
nhằm tăng trưởng kinh tế đất nước, xây dựng xã hội công bằng và văn minh.

----- THE END -----
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://vn.360plus.yahoo.com/David-Danz
 

Luật Lao Động nhóm 07

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum: Bạn không có quyền trả lời bài viết
Welcome to TD05 :: Góc học tập :: PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG -